Chuối cấy mô

Kỹ thuật cây giống mới

Chuối Tiêu hông

Giống cây mang lại hiệu quả kinh tế cao

Chuối giống

Chuối giống chất lượng chống sâu bệnh hiệu quả

Pages

Thứ Hai, 17 tháng 4, 2017

Hiệp Hòa trồng bưởi lãi 25 triệu đồng/sào

Ông Nguyễn Văn Đê, Chủ tịch Hội Nông dân xã nhẩm tính, 1 sào bưởi trồng được khoảng 30 cây, mỗi cây cho trung bình 50 quả (cây từ 3 năm trở lên), giá bán 25 - 30 nghìn đồng/quả, doanh thu đạt từ 30 - 35 triệu đồng/sào/năm.



Hiệp Hòa trồng bưởi lãi 25 triệu đồng một sào
Sau nhiều năm cây bưởi cho giá trị kinh tế hơn nhiều so với trồng lúa và một số loại cây trồng khác, giai đoạn 2015-2020, Huyện ủy Hiệp Hòa (Bắc Giang) đã ban hành nghị quyết trồng bưởi trên một số diện tích chân vàn cao cấy lúa, trồng màu nhằm tăng thu nhập cho người dân. Thời điểm này ở xã Lương Phong, những vườn bưởi đã ra quả non sai lúc lỉu. Ông Nguyễn Trung Đọc, thôn Vân An cho biết: “Dịp Tết Nguyên đán vừa qua, bưởi có giá cao hơn hẳn so với những năm trước. Đầu vụ 25 nghìn đồng/quả, về sau 30 nghìn đồng/quả nên với hơn một mẫu bưởi, gia đình tôi thu được hơn 100 triệu đồng”. Tương tự, hộ ông Nguyễn Văn Bẩy, thôn Sơn Quả 3 cũng thu được hơn 70 triệu đồng tiền bưởi. Thương nhân về tận nơi thu mua, nhiều thời điểm ông không đủ cung cấp theo nhu cầu. Diện tích trồng tập trung khoảng 100ha nên cứ khoảng đầu tháng 12 dương lịch hằng năm, thương nhân ở Hà Nội, Thái Nguyên lại tụ hội về Lương Phong để chọn, đặt hàng. Ông Nguyễn Văn Đê, Chủ tịch Hội Nông dân xã nhẩm tính, 1 sào bưởi trồng được khoảng 30 cây, mỗi cây cho trung bình 50 quả (cây từ 3 năm trở lên), giá bán 25 - 30 nghìn đồng/quả, doanh thu đạt từ 30 - 35 triệu đồng/sào/năm, sau khi trừ chi phí lãi 25 triệu đồng. Trong khi đó, nếu cấy lúa chỉ thu lãi hơn 1 triệu đồng/sào/năm. Như vậy, trồng bưởi lãi gấp hơn 20 lần so với cấy lúa. Cùng chung niềm vui với bà con xã Lương Phong, nhiều hộ tại các xã Ngọc Sơn, Xuân Cẩm, Hùng Sơn cũng thu nhập cao từ trồng bưởi. Do hiệu quả kinh tế từ bưởi mang lại khá cao nên người dân nơi đây ham làm vườn, tỷ mỉ chăm sóc cây; tỉa cành, dọn vệ sinh vườn tược. Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn huyện, vụ bưởi vừa qua, các hộ trồng bưởi có một năm trúng lớn, hộ trồng ít thu vài chục triệu, hộ trồng nhiều thu hàng trăm triệu đồng. Theo Phòng NN-PTNT huyện Hiệp Hòa, toàn huyện có gần 200ha bưởi Diễn. Những năm qua, nhằm góp phần thúc đẩy mở rộng diện tích cây trồng này, đơn vị chuyên môn của huyện, Sở NN-PTNT, Học viện Nông nghiệp VN phối hợp tổ chức bình tuyển cây đầu dòng; xây dựng mô hình sản xuất theo quy trình an toàn tại xã Lương Phong; xây dựng nhãn hiệu tập thể bưởi Lương Phong; tổ chức nhiều đợt tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc bưởi, hỗ trợ một phần giá giống cho nông dân khi trồng bưởi
Trước hiệu quả kinh tế mà cây bưởi đem lại cộng với điều kiện địa bàn có diện tích chân vàn cao lớn, Huyện ủy Hiệp Hòa ban hành Nghị quyết chuyên đề chuyển đổi cơ cấu cây trồng giai đoạn 2015-2020, trong đó chú trọng trồng bưởi trên diện tích cấy lúa, trồng màu kém hiệu quả. Theo đó xác định, trước mắt cải thiện, nâng cao chất lượng gần 200ha bưởi hiện có trong toàn huyện; đến năm 2020 phấn đấu trồng mới 130ha bưởi. Phòng NN-PTNT huyện đang phối hợp với đơn vị tư vấn lập quy hoạch; xây dựng cơ chế hỗ trợ, khuyến khích phát triển cây ăn quả; tạo điều kiện cho người dân chuyển đất vườn tạp, đồi cao, đất cấy lúa một vụ không ăn chắc sang trồng bưởi; xây dựng vùng sản xuất bảo đảm an toàn vệ sinh nông sản; tạo lập chứng nhận nhãn hiệu tập thể bưởi Hiệp Hòa. Đồng hành với đơn vị chuyên môn, Hội Nông dân huyện vừa triển khai đề án mở rộng diện tích trồng bưởi trên chân đất trồng lạc tại xã Châu Minh, Xuân Cẩm với quy mô gần 20 ha để từng bước nhân rộng. Tham gia mô hình, nông dân phải thực hiện dồn đổi, bảo đảm đủ diện tích 3 sào, được hỗ trợ một phần giá giống, phân bón và hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc. Tổng kinh phí đề án hơn 200 triệu đồng từ nguồn ngân sách huyện. Tuy lợi nhuận mà bưởi mang lại khá cao nhưng điều đáng ngại hiện nay là nhiều hộ chưa chú trọng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào chăm sóc nên chất lượng sản phẩm không đồng đều. Đơn cử như vụ bưởi vừa qua, nhiều hộ tại xã Lương Phong phải loại bỏ một phần quả do quả quá to, khô, vị không ngọt. Nhằm khắc phục hạn chế này, tổ chức đoàn thể tại xã Lương Phong đã tổ chức đoàn thăm quan, học tập kinh nghiệm tại huyện Lục Ngạn (Bắc Giang); đồng thời mời những người giỏi làm vườn ở Lục Ngạn về tận địa bàn, ăn ở với gia chủ để hướng dẫn người dân chăm sóc theo hình thức “cầm tay chỉ việc” để lấy lại chất lượng bưởi Lương Phong; phối hợp với đơn vị cung ứng phân bón lựa chọn công thức bón phù hợp

Chủ Nhật, 16 tháng 4, 2017

2 năm liên tiếp dân Đông Triều phải "nhịn" ăn vải?

Đã 2 mùa vải liên tiếp, người dân Bình Khê – vựa vải lớn nhất của thị xã Đông Triều (Quảng Ninh) – đối diện với thực trạng mất mùa. Cảnh những chiếc xe tải ùn ùn đến Bình Khê “ăn” vải, thu hoạch 2.500 - 3.000 tấn, doanh thu trên dưới 20 tỷ đồng/năm... trước đây đã không còn nữa.


Dưới gốc vải xanh um lá, chị Nguyễn Thị Ngân (thôn Đồng Đò, xã Bình Khê) đang ngồi nhặt rau, chuẩn bị cho bữa trưa. Khi biết chúng tôi hỏi thăm về vụ vải năm nay, chị Ngân thở dài sườn sượt nói: “Đấy, các chú xem, đến thời điểm này cây vải phải có quả non rồi, thế mà giờ chỉ lác đác một số cây có hoa, còn lại thì bao công chăm bón chỉ nuôi tốt lá!”.

Đã hơn 20 năm trồng vải, từ ban đầu chỉ có 15 cây, rồi mỗi năm lại tăng thêm một ít, đến giờ là hơn 200 gốc, chưa bao giờ vợ chồng chị Ngân nghĩ đến chuyện bỏ cây vải để trồng cây khác. Nhưng qua 2 mùa vải liên tiếp mất mùa, những ngày gần đây anh Hiến (chồng chị Ngân) lụi hụi đào những gốc vải già cỗi, tính chuyển sang trồng na, nhãn.

Cách nhà chị Ngân khoảng 200m là hộ ông Vũ Văn Túc, nhà trồng nhiều vải nhất thôn Đồng Đò. Ông Túc cũng than thở: “Suốt 24 năm trồng vải, chưa thấy năm nào thời tiết bất thường và khắc nghiệt như 2 năm trở lại đây. Ngay từ tháng 6 năm ngoái, chúng tôi đã bón phân tổng hợp, tỉa cành đủ kiểu mà gần 300 cây vải vẫn “điếc” hoa. Trung bình, một gốc vải bón mất 7kg phân tổng hợp, chi phí lên tới gần 50.000 đồng/gốc, chưa kể công chăm sóc. Mọi năm từ 3ha vải, nhà tôi thu 13-14 tấn quả, mang lại cho gia đình từ 150-180 triệu đồng, nhưng năm nay chắc chưa được nổi 1/10” .

Không chỉ có ông Túc, chị Ngân mà năm nay, người dân trồng vải ở Bình Khê đều chung nỗi buồn mất mùa. Ông Phạm Văn Thành - Giám đốc HTX Sản xuất kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Bình Khê cho biết, vụ vải năm 2016, do thời tiết giá rét kéo dài khiến tổng sản lượng vải Bình Khê chưa được 10% so với mọi năm. Năm nay không rét thì lại ấm quá, khiến cho các hộ trồng vải như ngồi trên đống lửa vì tỷ lệ ra hoa trên cây rất thấp, có những vườn vải chỉ toàn màu xanh của lộc.


Theo đánh giá của Sở NNPTNT tỉnh Quảng Ninh, thực trạng cây vải không thể phân hoá thành mầm hoa, dẫn đến nguy cơ mất mùa cũng xảy ra ở các vùng vải còn lại của thị xã Đông Triều như Tràng Lương, An Sinh, Hồng Thái Đông và Hồng Thái Tây... 

Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Lập vườn cây ăn trái trên đỉnh núi Dài thu nửa tỷ đồng

Ông Đào Văn Đua, 74 tuổi là một nông dân đã gắn bó đời mình với núi Dài (Ngọa Long Sơn) từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.


Hơn 40 năm qua, ông vừa có công bảo vệ rừng phòng hộ, vừa trồng cây ăn trái để phát triển kinh tế gia đình tại Ô Vàng (Núi Dài), nay thuộc xã Lê Trì, huyện Tri Tôn, An Giang.

10-24-29_1-vuon-buoi-8-nm-tuoi-tren-nui-di-cu-ong-hi-du
Vườn bưởi 8 năm tuổi trên núi Dài của ông Hai Đua
Ngọa Long Sơn là một dãy núi dài nhất (8.000m) trên vùng Bảy Núi – An Giang, nối liền với ba xã: Châu Lăng, Lương Phi, Lê Trì và thị trấn Ba Chúc. Đây là một dãy núi hoang sơ, huyền bí, nhiều thú dữ và chim muông, ít người lui tới. Nhiều vị cao niên kể lại trước kia bà con lên núi làm rẫy thường bị heo rừng vả lũ khỉ kéo đến phá hoại mùa màng, đáng sợ nhất là rắn rết, muỗi mòng, đỉa vắt. Còn giờ đây, đất rừng đã trở thành đất vườn, quanh năm cây cối xanh tươi, người lên núi ngày càng đông, chòi rẫy bắt đầu mọc lên.

Kể từ năm 1996, được sự hỗ trợ cùa ngành Kiểm lâm, bà con sơn dân đã hưởng ứng chương trình trồng rừng phòng hộ phủ xanh đồi trọc xen lẫn cây ăn trái. Ông Đào Văn Đua (Hai Đua) là một trong những người đầu tiên lên Ô Vàng trồng rừng phòng hộ xen lẫn cây ăn trái như xoài cát, bơ, mít, xoài riêng, cam, quýt, mãng cầu…

Ông Đào Văn Đua giới thiệu cây bưởi da xanh 8 năm tuổi trên Ô Vàng – núi Dài
Đầu tiên ông trồng su su, xà lách xoong, sau đó ông được GS.TS Võ Tòng Xuân hỗ trợ cho ông cây giống xoài riêng và cam dây để trồng thử nghiệm. Sau một thời gian thử nghiệm ông nhận thấy vùng đất nầy thích hợp với cây xoài cát Hòa Lộc và bưởi da xanh. Do vậy ông đã chọn cây xoài và cây bưởi làm cây chủ lực.

Ông cho biết tuy là vùng đất núi khô cằn nhưng nhờ ở độ cao trên 500m nên khí hậu mát mẻ, sương nhiều, thổ nhưỡng thích hợp nên cây cối, hoa màu đều phát triển xanh tươi, hầu như các loài cây có múi chưa bị bệnh vàng lá gân xanh như ở đồng bằng, mặc dù nguồn nước tưới rất khan hiếm.

Tính đến nay trong khu vườn rừng rộng trên 2ha của ông đã có trên 200 cây bưởi da xanh trên 8 năm tuổi đang ra trái; xoài cát Hòa Lộc trên 50 cây, mỗi năm cho 2 tấn trái. Ngoài ra còn có 100 cây quýt hồng và quýt đường; 100 cây cam sành, bơ, vú sữa, mãng cầu…

10-24-29_4-ong-hi-du-thu-hoch-xoi-ct-ho-loc-tren-o-vng-nui-di
Ông Hai Đua thu hoạch xoài cát Hòa Lộc trên Ô Vàng – núi Dài
Ông cho biết sau khi tổng kết, năm 2016 gia đình ông đã thu nhập trên 600 triệu đồng, trừ hết các chi phí còn lời khoảng nửa tỷ bạc. So với miền rừng núi, số tiền đó thật quá lớn đối với người nông dân một nắng hai sương.

Thứ Năm, 13 tháng 4, 2017

Quy hoạch nông thôn: Phải có tầm nhìn trăm năm

Không thể trông vào các cán bộ địa phương mà phải có tầm nhìn quốc gia để quy hoạch từng vùng nông thôn một.Việc quy hoạch nông thôn của chúng ta rất yếu kém. Anh trọc phú nào cũng mong có miếng đất ở quê, để xây biệt thự hay nhà nghỉ cuối tuần, để hưởng những món ăn sạch và bầu khí quyển trong lành.


  Lộn xộn quy hoạch nông thôn: Phải có tầm nhìn trăm năm

Không thể trông vào các cán bộ địa phương mà phải có tầm nhìn quốc gia để quy hoạch từng vùng nông thôn một.

Việc quy hoạch nông thôn của chúng ta rất yếu kém. Anh trọc phú nào cũng mong có miếng đất ở quê, để xây biệt thự hay nhà nghỉ cuối tuần, để hưởng những món ăn sạch và bầu khí quyển trong lành.

Đất quê vừa rẻ, vừa thoáng đãng. Người quê thì quá nghèo, để đổi đời, chỉ còn cách bán đất đai hương hỏa của ông cha rồi nhao lên thành phố để kiếm sống. Còn người phố lại đổ về quê để được sống. Người quê mang cái nhếch nhác luộm thuộm của làng quê đi “khai hóa” thành phố. Người phố lại khuân sắt thép về bê tông hóa làng quê. Rốt cuộc là hỏng ráo cả!

Ở Nhật, Đức, Pháp tôi đi vùng nông thôn màu sắc rất rõ, đời sống của họ cao lắm, khoảng cách đời sống giữa nông thôn và thành thị không khác nhau mấy nhưng ở ta phải nói là rất lộn xộn.

Tôi cảm giác không hề có bàn tay chỉ huy ở các làng quê, nên cứ mạnh ai nấy làm. Cái mà tôi lo lắng nhất, cũng đã từng bàn trên Báo NNVN cách đây hơn chục năm thì giờ đã thành hiện thực.

Làng quê đang bị ô nhiễm cả về cảnh quan và văn hóa. Theo nhà văn hóa lớn Hữu Ngọc thì ở các làng quê Việt Nam hiện nay, chỉ còn có mỗi Đường Lâm (Hà Nội) là còn giữ được bản sắc.

Đường Lâm ít ô nhiễm vì vùng quê đó nghèo lắm, chẳng có nghề gì ngoài nghề làm tương hay bỏng bẹ. Người dân có muốn xây dựng cũng không có điều kiện để xây. Rồi ông đau đớn kết luận: “May mà chính cái nghèo đã cứu được cả một di sản văn hóa đang bị tan rã”.

Việc xây dựng nông thôn mới là một chủ trương rất đẹp, rất kịp thời của Đảng và Chính phủ. Tất nhiên, xây dựng thế nào cũng là cả một vấn đề. Chúng ta cũng phải thay đổi tư duy. Không thể lấy vẻ đẹp cũ làm “khuôn vàng, thước ngọc” để đo vẻ đẹp mới.

Bây giờ chúng ta ngồi ở phòng lạnh điều hòa nhiệt độ, lại đòi hỏi ở làng quê bà con nông dân cứ phải đập lúa dưới trăng để giữ cho làng quê có vẻ đẹp huyền ảo.

Hay “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo” là câu thơ rất đẹp về làng quê của Nguyễn Khuyến. Nhưng tôi ước mong câu thơ ấy cứ lung linh trong thời đại của cụ Nguyễn Khuyến thôi.

Bây giờ ao thu mà nước cứ “lạnh lẽo trong veo” thì cá không sống được. Tôi mong cái ao của bà con bây giờ cứ đục ngầu lên và cá nhảy như mưa.

Ta cũng phải ghi nhận sự thay đổi rất nhiều của bộ mặt nông thôn bây giờ, đời sống của bà con nông dân cũng nâng lên được một bước. Nhiều vẻ đẹp bây giờ đến cả những người giàu tưởng tượng nhất ngày xưa cũng chẳng dám ước mơ.

Tuy nhiên, bên cạnh cái được, cũng ẩn chứa nhiều hệ lụy không thể không lưu ý. Đó là mối quan hệ giữa con người với con người đang bị rạn nứt. Bệnh vô cảm đang băng hoại cái tình làng nghĩa xóm “tối lửa tắt đèn”.

Việc cải tạo nông thôn, xây dựng nông thôn làm sao quy củ, hiện đại nhưng vẫn phải giữ được bản sắc văn hóa của một làng quê.

Nhưng thế nào là bản sắc văn hóa làng quê? Đây là điều người nông dân cần đến sự chỉ đạo của các nhà quản lý và sự tham mưu của giới khoa học chuyên môn.

Làm sao để Hà Tây (cũ) phải khác Hải Dương, Hải Dương phải khác với Bắc Ninh, Bắc Ninh phải khác với Lạng Sơn.

Bây giờ tất cả cứ na ná nhau, không thể phân biệt được, bởi thế không còn bản sắc nữa. Mà điều đáng ngại là không phải chỉ làng quê mà các thành phố cũng thế.

Như Điện Biên chẳng hạn. Tại sao chúng ta không biến Điện Biên thành một bảo tàng ngoài trời. Đến Điện Biên là ta trở về một vùng đất lịch sử, một vùng chiến trường xưa với một vẻ đẹp nguyên trạng. Như thế, thành phố sẽ thành một địa điểm du lịch, thu hút sự chú ý của nhân dân cả nước và du khách khắp nơi trên thế giới.

Thứ Tư, 12 tháng 4, 2017

Trồng chăm sóc xoài Đài Loan

Đặc điểm cây
Ra quả ngay sau năm đầu tiên, không có hiện tượng ra hoa nhiều nhưng không đậu quả như xoài miền Nam. Quả to trọng lượng trung bình đạt 1,0-1,5kg cùi dầy, thịt quả đanh chắc, hạt mỏng, ăn ngọt đậm, đặc biệt ăn xanh cũng ngọt và sức sinh trưởng vượt trội so với các giống xoài khác.


Kỹ thuật trồng và chăm sóc xoài Đài Loan
Tuy là một loài cây dễ tính có tính thích ứng cao với các điều kiện sinh thái khác nhau. Nhưng trong thời kỳ đầu của sự phát triển nếu chúng ta tạo được điều kiện thuận lợi cho cây con như: Trồng trên đất tơi mục, vị trí trồng tương đối cao, đảm bảo đủ độ ẩm nhưng thoát nước dễ vào mùa mưa thì cây xoài vẫn sinh trưởng và phát triển tốt hơn.

– Đào hố: Hố có đường kính 80cm, sâu 50-60cm. Khoảng cách các hố tuỳ theo giống, điều kiện đất đai, độ dốc của quả đồi có thể bố trí 5x6m, 7x7m hoặc 8x8m.

– Bón phân: Mỗi hố bón khoảng 20-30kg phân chuồng hoai mục. Đất đồi chua bón thêm 0,5-1,0kg lân và 0,5-1,0kg vôi bột cho mỗi hố. Khi cây phát triển tốt thì bón thúc NPK theo tỷ lệ 10:10:20, bón tăng dần theo hàng năm. Mỗi năm có 2 lần bón phân đáng chú ý là trước khi xoài ra hoa và sau khi thu hoạch quả. Nếu gặp năm sai quả thì có 1 lần bón thúc cho quả.

– Phòng trừ sâu bệnh:
Rầy xanh: Phòng trị bằng cách dùng bẫy đèn khi rầy chưa đẻ trứng, hoặc phun nước xà phòng 5g/l vào lúc cây ra hoa cách 2-4 ngày/lần. Tránh dùng nồng độ cao để không ảnh hưởng đến hoa. Hoặc có thể dùng Bsssa, Mipcin, Applaud, Azodrin, Trebon, Sevin nồng độ 0,15-0,20% để phun 2-3 lần, cách 5-7 ngày/lần.

Rệp sáp, rệp dính, rệp chích hút: nhựa ở lộc non, các nhánh và cuống quả xoài. Đây cũng là hai loại rệp sáp chích hút trên cam quýt. Dùng Supracid 0,1%, Dimecron, Bi58, Hostathion với nồng độ 0,2% hoặc Polysulfua canxi 0,50bômê để phun.
Sâu đục thân, đục cành: Phòng trừ, tránh tạo vết thương cơ giới trên cây nhơ cách dùng dao băm gốc kích thích cây ra hoa; Dùng bẫy đèn để diệt sâu trưởng thành; Tiêm vào lỗ đục các loại thuốc có tính xông hơi mạnh như Methyl parathion, Thiodan, Diazinon,… và bịt các lỗ đục bằng đất sét để diệt sâu non. Cần phát hiện các cành non bị sâu đục và đẻ trứng, cắt bỏ các cành này đem đốt để diệt sâu non ở bên trong.

Ruồi đục quả: Ruồi cái đục vỏ quả đã già, đẻ trứng dưới lớp vỏ. Trứng nở thành sâu non, sâu non ăn thịt quả, gây thối và rụng quả. Phòng trừ bằng cách không để quả chín trên cây; Phun Azodrin 0,1%, Bassa 0,25%, Bi58 0,1% hoặc dùng bả dẫn dụ ruồi như dứa, cam, quýt, chuối chín hay chất Methyleugienol trộn với thuốc sát trùng không có mùi hôi (Furadon, Azodrin, Malattion…) làm bẫy để diệt; Cũng có thể dùng phương pháp bao quả bằng bao gấy cũng ngừa được sự chích hại của ruồi vàng.

3. Thu hoạch:
Tuỳ theo mục đích sử dụng mà có cách hái khác nhau, nếu dùng tại chỗ thì để chín vàng trên cây, quả lúc này đạt chất lượng cao. Nếu phải mang đi xa hoặc xuất khẩu thì phải hái sớm hơn khi quả đã già (vai quả vượt xa đầu núm, quả phồng lên, chiều dày tăng). Nên hái quả vào ngày thời tiết nắng ráo. Cắt quả vào lúc trời râm mát, nếu hái vào ngày mưa khả năng bảo quản và vận chuyển sẽ kém.

Quả hái về cho vào phòng chứa một ngày đêm để quả tiếp tục hô hấp cho “ra mồ hôi” hết, sau đó dùng khăn ướt lau sạch và phân loại. Nếu phải chở đi xa thì cho vào sọt tre hoặc thùng các tông hay thùng gỗ xếp thành từng lớp, tối đa không quá 5 lớp, ở đáy sọt (hay thùng gỗ) lót một lớp rơm hay giấy xốp, giữa các lớp xoài lót thêm lớp giấy mỏng, từng quả cần được bọc thêm lớp gấy mỏng.

Trong quá trình bảo quản và vận chuyển dễ bị bệnh thán thư và thối cuống quả làm cho quả bị thối. Để ngăn ngừa dùng nước nóng 52 độ c trong 15 phút sau đó ngâm thêm 3 phút trong dung dịch 2-4% NaB4O7 rồi vớt. Cũng có thể dùng xe lạnh giữ ở nhiệt độ 5,5-11 độ C, độ ẩm không khí 85-90% thì có thể bảo quản được 4-8 tuần. Sau đó lấy ra, để ở điều kiện nhiệt độ bình thường trong phòng để thúc cho quả chín. Làm như vậy quả giữ được màu sắc và phẩm chất tươi ngon.

Cách phòng trừ ruồi đục quả trên cây thanh long

Ruồi đục quả là loài gây hại lớn cho sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam

Ruồi đục quả là loài gây hại lớn cho sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, là đối tượng kiểm dịch thực vật của nhiều nước như: Nhật Bản, Mỹ, Đài Loan… trên các loại rau quả tươi. Trong thời gian qua, các nước nhập khẩu quả thanh long đã cảnh báo nhiều về nguy cơ ruồi đục quả trên trái thanh long.
Mới đây Trung tâm Nghiên cứu phát triển cây thanh long và Chi cục BVTV tỉnh Bình Thuận đã phối hợp thực hiện mô hình phòng trừ ruồi đục quả thanh long, tại các địa phương trong tỉnh như: Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình...

Qua 4 tháng thực hiện trên diện tích 159,77 ha, gồm 223 hộ đã tham gia. Phương pháp thực hiện chia làm 2 giai đoạn: Trong mùa mưa (từ tháng 8/2008 đến tháng 11/2008), sử dụng chế phẩm Flykil 95 EC, liều lượng thuốc: 1–2 ml/bẫy (được tẩm vào miếng bông gòn treo trong bẫy), thời gian thay thuốc 2 tuần/lần, số lượng: 20 bẫy/ha.

Trong mùa khô (từ ngày 1/12/2008 đến ngày 31/12/2008), sử dụng chế phẩm Sofri Protein 10 DD để phun dẫn dụ ruồi, thời gian phun: 10 ngày/lần với liều lượng 1–1,2 lít/lần phun/ha. Kết quả báo cáo của Trung tâm nghiên cứu phát triển cây thanh long và Chi cục BVTV cho biết mật độ ruồi đục quả tập trung nhiều ở các khu vực nông dân có tập quán xen canh và đa canh nhiều loại cây rau màu, cây ăn trái như Chợ Lầu (Bắc Bình) với mật độ ruồi đục trái cao tới 183 - 190 con/bẫy, Hàm Liêm 100 con/bẫy, Hàm Hiệp (Hàm Thuận Bắc) bình quân 75 con/bẫy. Kết quả sau 6 tuần đặt bẫy thuốc Flykil ở một số nơi, cho thấy mật số ruồi giảm đáng kể. Cụ thể, Hàm Chính giảm hơn 80%, Mương Mán, Hàm Đức giảm gần 60%.

Riêng tại Bắc Bình, sau 3 tháng đặt bẫy đã giảm 95% lượng ruồi đục quả, chỉ còn 6-23 con/bẫy. Địa bàn Phan Thiết (Phong Nẫm, Tiến Lợi) cũng giảm từ 45 con/bẫy còn 5-6 con/bẫy. Tuy nhiên, hạn chế là bẫy thuốc Flykil chỉ diệt được ruồi đực, nên khả năng ruồi cái đã giao phối vẫn có thể tiếp tục gây hại trên vườn. Còn ở mùa khô, trong tháng 12/2008, Chi cục BVTV đã triển khai mô hình phòng trừ ruồi đục quả với chế phẩm Sofri Protein.

Sau 1 tháng triển khai, mật số ruồi đục quả giảm ở Hàm Liêm (44 con/bẫy còn 8 con/bẫy), Phong Nẫm, Tiến Lợi (Phan Thiết) hầu như không có ruồi vào bẫy. Quan sát cảm quan, tạm thời xác định có 3 loài chính vào bẫy: Bactrocera dorsalis, Bactrocera correcta và Bactrocera cucurbitae. Việc sử dụng chế phẩm Sofri Protein để dẫn dụ, tiêu diệt ruồi đục quả tuy mới sử dụng nhưng bước đầu cho thấy có hiệu quả trong việc phòng trừ đối tượng này, mặc dù sản phẩm vẫn có nhiều bất tiện là phụ thuộc vào thời tiết và nguồn cung ứng hàng.

Mô hình "Phòng trống ruồi đục quả trên cây thanh long” triển khai trong thời gian ngắn nhưng bước đầu chứng minh hiệu quả của việc phòng trừ ruồi đục quả và trong công tác phòng trừ, tỷ lệ ruồi đục quả đã giảm hẳn so với trước. Việc sử dụng bẫy dẫn dụ ruồi đục quả có ý nghĩa quan trọng là không để lại tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên sản phẩm, đảm bảo mục tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm.

Trước những kết quả đạt được từ mô hình, nhiều hộ nông dân trồng thanh long đã quan tâm ứng dụng. Để công tác khống chế ruồi đục quả có hiệu quả cao nhất thì cần phải tiếp tục nhân rộng mô hình này với thời gian từ 2–3 năm và tổ chức trên diện rộng tại các địa bàn trồng thanh long nhằm phục vụ cho yêu cầu xuất khẩu thanh long của tỉnh Bình Thuận.

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

Những sâu bệnh chính hại cây có múi

Phổ biến kiến thức cho bà con về các loại sâu bệnh chính và cách phòng chống sâu bệnh trên các loại cây có múi (cam, quýt, chanh, bưởi).

1. Sâu đục cành
Đặc tính sâu bệnh:
Gây hại khá phổ biến ở một số vùng trồng cam, quýt. Sâu non gây hại trên thân cành, khoét lỗ làm tổ trong cành, khiến cả cành lá bị úa vàng, ngừng sinh trưởng. Khi bị nặng, sâu có thể gây chết cành. Quan sát ở phía ngoài các lỗ đục thấy có phân đùn ra. Sâu non đẫy sức dài khoảng 50 mm, màu vàng ngà. Sâu trưởng thành dạng xén tóc, cơ thể có chiều dài từ 25 – 29 mm, màu xanh đen. Các chân có màu xanh sẫm. Trên đầu có râu dài. Trưởng thành vũ hoá cuối mùa xuân đầu mùa hè, đẻ trứng rải rác vào các nách cành hoặc kẽ nứt trên vỏ thân cây. Sâu non mới nở gặm ăn phần vỏ cây, sau đó khoét các lỗ đục vào trong cành và gây hại. Vòng đời sâu xén tóc đục thân cành thường kéo dài 1 năm, thời gian sâu non gây hại nặng từ tháng 5 – 11.

Cách phòng và trị: Cần tăng cường biện pháp đốn tỉa, tạo cho cây thông thoáng. Quét vôi lên trên thân cây vừa hạn chế nấm bệnh xâm nhập vừa không tạo điều kiện thuận lợi cho sâu đẻ trứng. Chặt bỏ các cành cây có sâu non đang gây hại vào tháng 7 – 8.
2. Sâu vẽ bùa
Đặc tính sâu bệnh:
Sau khi sâu non nở, nó đục vào lá và ăn phần thịt lá dưới lớp biểu bì của mặt lá, tạo thành các đường hầm ngoằn ngoèo. Lá non bị hại kém phát triển, cong queo nên khả năng quang hợp kém, làm cây sinh trưởng chậm. Đặc biệt khi vườn cây ở thời kỳ mới trồng và trong giai đoạn kiến thiết cơ bản thì mức độ tác hại lớn hơn vì làm cho cây còi cọc, chậm lớn.
Cách phòng và trị:
Phòng chống bằng cách theo dõi chặt chẽ các đợt lộc xuất hiện rộ trên vườn quả, đặc biệt các đợt lộc xuân và lộc thu, nhất là các đợt lộc hình thành sau các đợt mưa, sau khi bón phân hoặc sau khi tưới nước. Sử dụng một số loại thuốc như Decis 50EC nồng độ 0,2%, Sumicidin 50EC 0,2%, Polytrin 50EC 0,2%, lượng phun 600 – 800 lít/ha thuốc đã pha. Cần phòng chống sớm, ngay khi độ dài của lộc khoảng 1 – 2 cm hoặc thấy triệu trứng gây hại đầu tiên của sâu.
3. Bệnh vàng lá greening
Đặc tính sâu bệnh: Bệnh gây hại trên tất cả các giống cam, quýt, chanh, bưởi… Mới đầu bệnh hại trên từng cành sau đó lan dần ra cả cây. Lá bị bệnh có mầu vàng loang lổ. Lá nhỏ lại và thường bị lệch tâm. Quả bị bệnh nhỏ, chậm phát triển và cũng bị lệch tâm. Khi bổ quả bị bệnh thường thấy hạt bị lép. Quả từ cây bị bệnh khi chín thường loang lổ màu xanh, vàng xen kẽ. Trong khi quả từ trên các cây không bị bệnh có mầu vàng tươi. Cây bị bệnh nặng thường thấy hiện tượng ra hoa trái vụ. Các cành lá vàng và khô dần cả cành, rồi khô đi. Chính vì thế nhiều nơi gọi bệnh này là hiện tượng cây khô lá vàng. Tác nhân gây bệnh do vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây ra. Bệnh lây lan qua cành chiết và mắt ghép lấy từ cây bị bệnh để nhân giống. Trên đồng ruộng, rầy chổng cánh (Diaphorina citri) là môi giới truyền bệnh từ cây bị bệnh sang cây khoẻ.
Cách phòng và trị: Bệnh này cực kỳ nguy hiểm, khó phòng trừ nên phòng chống bằng cách không nhân giống hoặc trồng mới bằng giống lấy cành chiết và mắt ghép từ các cây đã bị bệnh, hay không biết cây có bị bệnh hay không. Trồng mới bằng giống sạch bệnh mua từ các cơ sở nhân giống cây có múi sạch bệnh. Thường xuyên thăm vườn và đốn tỉa những cây, cành bị vàng lá nghi là nhiễm bệnh vàng lá greening. Phun thuốc trừ rầy chổng cánh môi giới truyền bệnh bằng thuốc hoá học như Trebon 0,1%; Bi 58 là 0,1% và các loại thuốc nội hấp khác. Đặc biệt chú ý phun thuốc trừ rầy ở các đợt lộc như lộc xuân, lộc hè và lộc thu.
4. Bệnh thối rễ, chảy gôm
Đặc tính sâu bệnh: Rễ bị thối cả lông hút và vỏ rễ làm cho cây không hút được nước và phân bón. Rễ bị bệnh nặng làm cho lá cây chuyển màu vàng, sau đó bị rụng. Trên thân, cành xuất hiện các vết nứt và kèm theo hiện tường chảy gôm. Bị bệnh nặng phần vỏ quanh thân, cành bị thối, sau đó mục dần vào phần gỗ. Trên quả cũng bị bệnh với triệu chứng thối nâu và quả bị rụng nhiều. Chồi non cũng bị bệnh và thường gây thối chồi. Trong vườn ươm bệnh phổ biến gây thối rễ và chết cây con. Bệnh do nấm Phytophthora sp. gây ra. Nấm tồn tại trong đất và trên các bộ phận bị hại trên cây. Trời ấm và có nước tự do trên cây và trong đất thuận lợi cho du động bào tử của nấm lây lan và gây bệnh.
Cách phòng và trị: Phòng chống bằng cách sử dụng gốc ghép chống bệnh như gốc cây chấp, gốc chanh Volkameriana, gốc cam đắng, cam ba lá… Xây dựng hệ thống thoát nước và hạn chế nước mưa đọng trên vườn. Tăng cường bón phân hữu cơ để làm giầu vi sinh vật đối kháng (nấm Trichoderma…) nhằm hạn chế sự phát triển của nấm gây bệnh…